Người Việt làm thủy điện giữa rừng Lào

Share Button
Người Việt làm thủy điện giữa rừng Lào (Kỳ 1: Xa lắc quê nhà)


Đến công trường xây dựng thủy điện Xekaman 1 do TCty Sông Đà làm tổng thầu (đồng thời TCty Sông Đà cũng là một cổ đông chính góp vốn đầu tư) trên địa bàn tỉnh giáp biên Attapư nước bạn Lào lần này, lúc đầu chúng tôi không thấy có sự khác biệt nhiều so với những công trình thủy điện khác.

van la cong truong hoanh trang nhung loat thom giua dai ngan

Vẫn là công trường hoành tráng nhưng lọt thỏm giữa đại ngàn.

Vẫn là công trường hoành tráng nhưng lọt thỏm giữa đại ngàn, vắng bóng khu dân cư. Vẫn những thiết bị cơ giới mang biển kiểm soát của Việt Nam cần mẫn, hối hả thi công. Vẫn là những gương mặt người công trường sạm nắng, rắn giỏi, nhưng bé tý tẹo trên vai, móng đập, móng cống dẫn dòng… Bé tý tẹo trước núi và rừng. Họ trò chuyện thân thiện với chúng tôi bằng thứ tiếng Việt mẹ đẻ, chủ yếu là giọng Bắc. Vẫn là những bữa ăn công trường được thổi từ gạo, rau, gia vị mắm muối mang nhãn hiệu “made in Việt Nam”. Vẫn là những kênh truyền hình của Việt Nam được bắt sóng bằng chảo thu kỹ thuật số vệ tinh DTH.

Khác chăng là ở đây, rừng rậm hơn. Dù là đường vào hiện trường hay ở bất cứ ngóc ngách công trường nào, chúng tôi cảm giác, chỉ cần vươn tay ra là chạm được vào rừng già. Khác chăng là dọc các khu làm việc, khu lán trại thi thoảng chúng tôi bắt gặp biển quảng cáo của một hãng viễn thông Lào. Những khi ấy chúng tôi chợt nhận ra những người công trường đang liên lạc với nhau và phần còn lại của thế giới bằng sim điện thoại của Lào với giá cước cao hơn nhiều so với cước viễn thông ở Việt Nam…

Đôi khi người công trường gọi nhau một cách sang trọng, hài hước là Việt kiều cũng khiến chúng tôi nhớ ra là mình đang ở đất Lào. Nhưng khoảnh khắc mà chúng tôi thực sự nhận ra mình đang ở đâu lại chính là lúc chia tay công trường để trở về Hà Nội, Vụ và Hiệp – 2 thành viên trẻ của Ban điều hành – cứ nằng nặng thỉnh cầu lãnh đạo cho phép được tiễn khách về bên kia biên giới, qua cửa khẩu Bờ Y (Kon Tum). Vụ đến với công trường từ ngày đầu, đã có trên 2 năm gắn bó với công trường giờ đây nằn nì: “Từ tết đến giờ em không được về Việt Nam!”. Còn Hiệp thì vốn là nhà con một. Trước đó cậu từng đầu quân cho một đơn vị đầu tư kinh doanh bất động sản nên tiếng là kỹ sư xây dựng song chưa bao giờ phải xa Hà Nội. Hiệp vào công trường Xekaman 1 này mới tròn chục ngày. Hiệp khẽ khọt: Em nhớ nhà quá. Con gái em chuẩn bị được một tuổi, mẹ nó bắt đầu dạy nói. Mỗi lần điện thoại về nghe con gái u ơ gọi, nhớ phát khóc…!

Cả Vụ và Hiệp có chung nguyện vọng: Về Việt Nam một ngày thôi rồi thì ngày hôm sau sẽ khẩn trương trở lại công trường.

Nghe họ nói, chúng tôi không khỏi bối rối. Họ mong vượt qua biên giới chỉ để ngủ một đêm trên đất Việt, để được dùng sim điện thoại và thẻ ATM của Việt Nam, để mua một bình nước lọc dung tích lớn dùng làm nước uống trong nhiều ngày, để mua một tủ giấy đựng quần áo, để được thưởng thức ly café Ban Mê… Họ về Việt Nam những mong bớt đi nỗi nhớ nhà chứ thực ra một người vợ con ở mãi quê nhà Thái Bình, người kia vợ con ở Hà Nội. Khoảng cách giữa họ và gia đình không chỉ là hàng ngàn cây số địa lý, mà còn là sự vời vời của nỗi nhớ thương…

Nói vậy thôi, chứ việc đầu tư xây dựng thủy điện bên Lào dẫu sao vẫn có nhiều phức tạp hơn trong nước. Đơn cử như việc đưa người và thiết bị qua biên giới. Hùng – Cán bộ Cty Sông Đà 10 kể, hồi công trường mới trong giai đoạn chuẩn bị, đường quốc lộ của Lào từ cửa khẩu đi Viên Chăn chưa thông, tuyến xe đò từ Việt Nam qua cửa khẩu chưa hình thành như hiện nay, việc lưu thông qua cửa khẩu chính thức rất phiền phức. Khi đó, tôi vẫn thường vụng trộm theo người dân địa phương bí mật qua lại biên giới theo đường “tiểu ngạch”, không hộ chiếu. Thậm chí có lần tôi còn đưa đồng thời cả hơn chục công nhân “vượt biên”.

Song việc đưa thiết bị cơ giới, vật liệu phục vụ thi công qua biên giới thì không đơn giản như thế. Có những bận, thiết bị và người hộ tống đã có đầy đủ giấy tờ pháp lý của cả hai quốc gia nhưng hàng vẫn phải nằm đọng ở cửa khẩu cả tuần trời, không qua biên giới nổi. Ban điều hành tổng thầu công trình thủy điện Xekaman 1 lần lượt cắm 2 cán bộ kỹ thuật chuyên phụ trách thủ tục cho người, thiết bị, vật liệu qua cửa khẩu nhưng hiệu quả công việc thấp, họ gần như bất lực, ức phát khóc, rút cục bỏ về xuôi luôn. Phụ trách công việc nói trên giờ đây là anh Võ Thế Tùng. Với thâm niên 6 năm ở và qua lại trên đất Lào (vì trước đó anh từng đầu quân cho một Cty chuyên doanh lâm sản của tỉnh Kon Tum), với lợi thế nói và đọc được tiếng bản địa, mọi việc có vẻ dễ dàng hơn nhiều. Anh được cán bộ bên Lào tín nhiệm đến nỗi bất cứ một chuyến thiết bị, vật liệu nào mà không thấy anh xuất hiện lo thủ tục, hay ít nhất là điện thoại can thiệp sau khi cán bộ của đơn vị đã tự hoàn tất thủ tục thì đừng mong nhanh qua được cửa khẩu (!) Chính vì vậy giờ đây người công trường vì quý mến mà đang lo thay cho anh. Bởi chẳng mấy nữa, công trường bước vào cao điểm thi công, riêng xi măng, mỗi ngày cũng có cả chục chuyến cần đưa qua cửa khẩu. Khi ấy, có lẽ anh Tùng đành phải bám cửa khẩu chứ chẳng thể lủi thủi một mình ở văn phòng đại diện thuê ở thị trấn Plây Kần thủ phủ huyện giáp biên Ngọc Hồi của tỉnh Kon Tum trực như hiện nay. Việc về nhà thăm vợ con ở thị xã Kon Tum, cách cửa khẩu chừng 80 cây số cũng vì vậy mà ngọ ngằn.

Người Việt làm thủy điện giữa rừng Lào (Kỳ 2: Tắm mình trong nắng, gió rừng Lào)

Thời tiết chiều khách. Những ngày chúng tôi lưu lại ở công trường, thay vì đổ lửa rát bỏng, trời liên tiếp mưa. Không gian dịu mát khiến cho khách vãng lai có phần coi thường cái nắng, cái gió của rừng Lào. Người công trường thì khác. Họ rè rặt và cẩn trọng. Một chị có chồng là công nhân Cty Sông Đà 4, trước khi sang công trường khẩn trương đi học làm đậu phụ và giá đỗ. Giờ đây, khi sống trong vùng khô cằn, nắng gắt, thiếu quỹ đất trồng rau xanh cải thiện, mọi thứ đều đắt đỏ (ít nhất giá cả mặt hàng cùng loại gấp đôi, gấp ba trong nước) thì nghề mới xem ra phát huy hiệu quả, cung chẳng đủ cầu.

Rau xanh ở công trường hiếm đến độ Giám đốc Ban điều hành tổng thầu cũng nhận ra bên hông khu lán trại của Ban ai đó mới tận dụng san một vạt đất nhỏ trồng rau lang. Vị Giám đốc hỏi ngay ai trồng. Chưa kịp nhận câu trả lời đã thấy vị này kết luận gọn: Rau đấy là của tập thể.

Nói như vậy không có nghĩa là bữa ăn của người công trường thiếu rau hay các loại lương thực thiết yếu. Chợ của người Lào gần công trường nhất cũng cách đến gần bốn mươi cây số thành ra người công trường có cách đi chợ khá “thời thượng” là muốn mua gì, số lượng bao nhiêu, chỉ cần gọi điện là có ngay người đem đến. Người cung ứng đều là người Việt. Họ chuyển hàng bằng xe máy từ thị trấn Plây Kần, qua cửa khẩu rồi đưa đến công trường. Quãng đường họ chuyên chở lương thực mới có chừng… 100km thôi. Vậy nên giá cả hàng hóa đương nhiên cũng tỷ lệ thuận với quãng đường và công sức họ bỏ ra.

Cũng không hẳn người công trường phụ thuộc hết vào nhà cung ứng nhạy bén với thị trường nói trên. Một số bếp ăn tập thể đã chủ động nuôi cả trăm con gà…

Còn cậu công nhân trẻ măng vận hành xe tải dung tích lớn chở đất đá của Cty 901, tên Quán, người Hải Dương, thì có cách đối diện với điều kiện sống và làm việc giữa rừng Lào theo cách riêng. Khi vẫy xe cậu này nhờ đi ra hiện trường, chúng tôi thấy trong ca bin treo tòng teng chiếc quần đùi. Chúng tôi cười cười, cậu bối rối lý giải: Nước sạch ở công trường phập phù. Em chủ động, hết ca xuống sông tắm luôn rồi mới về (!).

Tắm sông hẳn nhiên là không an toàn tuyệt đối. Nhưng sự lựa chọn của cậu công nhân này xem ra có vẻ thức thời. Bởi chúng tôi cũng đã kịp thưởng thức món nước sạch công trường. Nước được dẫn từ hai con suối tự nhiên trong rừng (nghe nói là trong vắt quanh năm) vào bể lọc tập trung rồi từ đây nước tiếp tục được dẫn về vòi sử dụng trong các khu lán trại. Thí nghiệm cho thấy nước đạt tiêu chuẩn lý hóa dùng trong sinh hoạt. Vậy mà sau cơn mưa rừng, nước dùng trong “phòng khách VIP” chúng tôi dùng vẫn vàng quạch, có lúc tắt ngóm.

Chúng tôi cũng thấy ở đây người công trường chủ động và coi trọng công tác chuẩn bị lán trại. Nhiều năm trước, việc thi công các công trình lớn như thủy điện Hòa Bình, Yaly kéo dài cả chục năm, lao động tập trung hàng vạn người vậy nên bên cạnh công trường luôn hình thành những khu ở tập thể khá tươm tất, rồi thì có cả trường mầm non, trường tiểu học, nhà văn hóa, trạm xá và chợ… Tất cả nhằm bảo đảm chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần, để người lao động yên tâm công tác. Nhưng cũng từ lâu rồi, với sự hỗ trợ của thiết bị, công nghệ hiện đại, trình độ của người lao động được nâng cao, việc thi công công trình thủy điện xấp xỉ 300MW như Xekaman 1 chỉ khoảng 5 – 6 năm và tùy theo yêu cầu công việc vào từng thời điểm mà người lao động được huy động. Hiện tại, công trường Xekamản 1 tập trung gần 1.000 người. Dự kiến lúc cao điểm sẽ có khoảng 4.000 người. Người lao động không còn tha lôi vợ con theo mình đến công trường như trước, trừ một số trường hợp cả vợ và chồng cùng làm một đơn vị. Hơn nữa, theo quy định mới, việc chuẩn bị đầu tư lán trại cho người lao động cũng thoáng hơn. Thành ra điều kiện ăn ở tại các công trường thời nay giản đơn hơn nhiều, thậm chí chúng tôi được chứng kiến có công trường nhà thầu để người lao động ở trong lán trại chật chội, tạm bợ, nhếch nhác, vá víu.

Ở công trường Xekamản 1 thì khác. Phần lớn lán trại đều tươm tất, nhà xây gạch, khép kín, lợp tôn và luôn bố trí sân chơi thể thao bóng chuyền, cầu lông, cầu mây… Chỉ cho chúng tôi thấy khu đất rộng gần trụ sở Ban điều hành mới san ủi, vị Giám đốc Ban điều hành tổng thầu có vẻ tiếc nuối: Chỗ đấy dự kiến ban đầu làm sân bóng đá nhưng một đơn vị đã xin làm mặt bằng để dựng lán trại cho người lao động từ Việt Nam sang. Biết là như vậy công trường sẽ không có được khuôn viên rộng rãi, thiếu đi không gian văn hóa cộng đồng nhưng cũng không làm khác được. Công trường mở ra giữa vùng rừng núi, địa hình hiểm trở, quỹ đất bố trí mặt bằng cho khu lán trại của các nhà thầu vì vậy mà luôn eo hẹp.

Chính vì người công trường không còn điều kiện thuận tiện như trước nên giờ đây, sống giữa rừng Lào, một trong những việc được người công trường chuẩn bị kỹ càng nhất là sắp xếp cho hậu phương. Trước khi theo chồng vào công trường Xekamản 1 cùng công tác, chị Quy buộc phải gửi cậu con trai duy nhất cho ông bà nội cháu chăm sóc. Chị lo lắng nói: Năm sau khi con trai đi học lớp 1, có lẽ chị sẽ trở về chăm lo, kèm cặp cho con.

Vợ chồng anh Chất chị Vân cũng có tính toán tương tự. Khác chăng là cô con gái đầu của anh chị năm nay đã 18 tuổi, chuẩn bị thi đại học, cậu con trai thứ cũng đã học lớp 10. Trong khi bố mẹ “xuất khẩu lao động” bên Lào thì hai đứa trẻ sống với ông bà ở Hòa Bình. Ngôi nhà của gia đình anh chị ở Gia Lai bỏ không. Sau nhiều năm tháng cùng anh rong ruổi khắp các công trường thủy điện ở Tây Nguyên, giờ đây chị đang dự định theo học nghề mới, vận hành nhà máy điện với hy vọng sẽ được ưu tiên tuyển chọn làm công nhân trong một nhà máy điện ở Gia Lai. Chẳng phải là chị tham sự an nhàn mà đơn giản chỉ muốn có một cuộc sống ổn định hơn để có thể chăm lo cho các con và chăm sóc bố mẹ già thay cho cảnh “một chốn bốn nơi” như hiện nay. Nguyện vọng của anh Chất chị Vân cũng như bao người ở công trường khác rõ ràng là rất chính đáng mà sao nghe xa xôi, bùi ngùi đến vậy.v

Người Việt làm thủy điện giữa rừng Lào (Kỳ 3: “Mối tình” mang tên Xekamản 1)

 

Thân cò …


Ở công trường thủy điện Xekamản 1, chúng tôi gặp lại vị tổng chỉ huy quen thuộc. Đó là anh Vũ Đức Chung – Giám đốc Ban điều hành. Sở dĩ nói là gặp lại bởi trước đó chúng tôi đã từng được theo chân anh trên nhiều công trường khác. Vẫn dáng cao lớn, gương mặt sạm nắng nhưng không cháy đen mặc dù ngày nào anh cũng đều đặn 2 bận sáng, chiều đi kiểm tra mọi ngóc ngách công trường. Vẫn cách điều hành sôi sục, quyết liệt, nói mà như hét, trao đổi công việc, điều hành mà như cãi lộn. Mặt găng đỏ, tay không ngừng chém gió…

Chúng tôi thẽ thọt hỏi: Anh nói như thế mà không sợ người đối diện khó chịu và ghét à?

Anh khựng người trong giây lát rồi nhoẻn cười ngượng nghịu: Phải nói to thì mới át được tiếng máy móc thi công. Ở công trường không nói chơi. Quân lệnh như sơn. Nói đi liền với làm. Nếu không làm thì… đi chỗ khác chơi.

Chúng tôi lại đem chính câu hỏi trên đặt cho mọi người ở công trường. Câu trả lời nhận được là quen rồi, hiểu tính rồi nên không… ấm ức. Hơn nữa, tất cả cũng vì công việc chung. Những lúc ngoài công việc, trở lại với cuộc sống đời thường, anh em lại thân tình, chu đáo với nhau. Đấy đơn giản là đặc tính của người công trường!.

Giống như những lần trước, trong khi dẫn chúng tôi tham quan hiện trường, anh Chung không ngừng giới thiệu từng hạng mục và tiến độ của chúng, về những người đang chỉ huy, thi công trên công trường. Anh bảo, anh gần như biết hết mọi người nhất là những người gạo cội, từng tham gia các công trình thủy điện trước đó như Hòa Bình, Yaly… Anh nói vanh vách một số mốc thời gian và tiến độ của công trường. Chúng tôi ngạc nhiên: Ở những lần gặp trước trên các công trường khác nhau, anh cũng luôn nhớ chính xác mốc thời gian, dù là mốc “bé tý” chứ không phải các mốc lớn như ngày khởi công, chặn dòng… Đại loại “bé tý” như ngày đầu tiên khảo sát công trường, ngày chính thức nhận nhiệm vụ ở công trường, các ngày chuyển trụ sở từ nơi tạm này đến nơi tạm khác, rồi chuyển đến nơi ở chính thức, ngày đưa thiết bị cơ giới đầu tiên vào công trường…

Chúng tôi hỏi: Làm thế nào để nhớ được các mốc thời gian ấy mà không lẫn lộn giữa hàng chục công trình mà anh từng tham gia?

Anh cười: Luôn có cách để nhớ về các kỷ niệm.

Cách lý giải của anh khiến chúng tôi nhớ đến câu trong một bài hát “Sau lưng chúng ta là những thành phố” vốn được coi là “Thủy điện ca” của người Sông Đà: Mỗi công trình là một mối tình…

Trong số người mà anh Chung giới thiệu, chúng tôi đặc biệt ấn tượng về cậu kỹ sư trẻ măng tên Dũng ở Cty Việt Bắc của Bộ Quốc phòng. Sinh năm 1983 nhưng cậu đã được chính thức bổ nhiệm làm phó chỉ huy trưởng thường trực của các hạng mục công trình mà Việt Bắc đảm nhiệm với giá trị sản lượng hàng trăm tỷ đồng. Dũng khẳng khái: Em xuất thân từ con nhà nông dân nên em chẳng ngại khó, ngại khổ, chỉ ngại việc không chạy.

Chúng tôi chứng kiến, hôm đó là Tết Lào, Giám đốc Ban điều hành tổng thầu hào phóng cho một cán bộ được nghỉ chơi Tết và Dũng với tư cách đại diện nhà thầu được vắng mặt trong buổi giao ban tuần. Vậy mà Dũng cứ nì nè Em không nghỉ, em phải về công trường chỉ huy…

Sau cuộc họp giao ban tuần một ngày, Giám đốc Ban điều hành lao đến tận trụ sở của Việt Bắc điệu vị phó chỉ huy chất vấn về việc Ban đã giao và Việt Bắc đã nhận là dọn dẹp khối đất đá sạt lở ở một nhánh đường do Việt Bắc trước đấy đảm nhiệm thi công vậy mà sáng nay kiểm tra hiện trường đống sạt lở vẫn còn nguyên. Những tưởng cậu kỹ sư trẻ sẽ bối rối, luống cuống trước vị Giám đốc Ban điều hành sừng sỏ, ồn ào kia nào ngờ cậu tỏ ra rất bình tĩnh: Việt Bắc đã khảo sát lại hiện trường. Phần sạt lở chủ yếu rơi vào khu vực của đơn vị thi công khác, khu vực của Việt Bắc chỉ có một phần nhỏ. Nếu điều thiết bị cơ giới đang thi công ở các hạng mục khác đến chỉ để dọn đống đất nhỏ thế thì lãng phí ca máy, không hiệu quả kinh tế. Việt Bắc chắc chắn sẽ dọn như cam kết nhưng chậm khoảng nửa ngày hoặc một ngày để kết hợp thêm một số công việc khác.

Tuy khi ấy vị Giám đốc vẫn cương quyết yêu cầu Việt Bắc dọn ngay nhưng cuối ngày hôm đó, vị giám đốc này đã kín đáo chia sẻ với chúng tôi cảm nhận: “Nhìn vào những kỹ sư trẻ như Dũng, tôi như nhìn thấy tuổi trẻ của thế hệ kỹ sư chúng tôi trên công trường thanh niên cộng sản thủy điện Hòa Bình: Tràn đầy nhiệt huyết, chịu khó học hỏi, sẵn sàng lăn vào việc… Kỹ sư trẻ mà lập được biện pháp thi công thì là rất cừ, rất hiếm”. Còn những người viết bài này thì thấy ở Dũng cả sự khôn ngoan, thức thời của nhà doanh nghiệp thời cơ chế thị trường.

Trong khi hầu hết người công trường đều nói là sẽ gắn bó với công trường chừng 4 năm nữa (khi Xekamản 1 phát điện tổ máy 1) thì kỹ sư Cần, người có nước da đen sắt vì nắng gió lại bả Tôi còn ở đây 2 năm nữa…

Thấy chúng tôi tỏ vẻ hơi bất ngờ, kỹ sư Cần giải thích: 2 năm nữa tôi đủ tuổi nghỉ hưu.

Trong lòng chúng tôi bỗng trào dâng một cảm xúc khó tả. Ở tuổi này lẽ ra người ta được gần con gần cháu và được con cháu chăm sóc vậy mà người kỹ sư này vẫn lọ mọ công trường, làm việc và sống tha phương.

Khi chúng tôi nói lại cảm nhận này với một người công trường, người này cũng ngậm ngùi: Cái số anh Cần vất vả. Tuổi trẻ đi bộ đội chiến đấu suýt mất mạng ở thượng Lào. Cuối đời (sự nghiệp) thì lại làm thủy điện ở hạ Lào. Anh ấy đi biền biệt suốt, tổng thời gian ở cạnh vợ con nơi quê nhà tính ra chắc chỉ xấp xỉ nghìn ngày.

Chúng tôi biết, kỹ sư Cần không phải là người duy nhất ở công trường Xekamản 1 sẽ tiếp tục gắn bó với núi rừng, với đất, đá, bê tông, sắt thép… cho đến ngày nghỉ hưu. Thế mới nói, cuộc đời sự nghiệp của kỹ sư Cần cứ lẫn vào hàng vạn, hàng vạn người lao động trong ngành Xây dựng!

Chứng kiến người công trường sống và làm việc, chúng tôi tự hỏi: Xây dựng công trình thủy điện phải chăng là sứ mệnh của họ? Bởi chỉ có thế thì mới lý giải được vì sao thế hệ này nối tiếp thế hệ kia bỏ lại thành phố, quê nhà sau lưng đến với rừng xanh núi đỏ!

Hải Vũ – Lê Mỹ (BXD)
Share Button