Tiềm năng và phát triển của Tổng công ty Sông Đà

Share Button

Kể từ ngày thành lập (năm 1960), Tổng Công ty Sông Đà đã gắn bó với việc xây dựng và đầu tư các dự án điện tại Việt Nam và trong 10 năm trở lại đây, Tổng Công ty đã và đang tiến hành đầu tư các dự án điện tại Nước cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Trong lĩnh vực xây dựng thuỷ điện, với vai trò là nhà Thầu xây lắp, Sông Đà đã tham gia xây dựng hầu hết các dự án Thuỷ điện lớn tại Việt Nam, bắt đầu từ nhà máy Thuỷ điện Thác Bà và sau đó là các dự án Thuỷ điện: Hòa Bình, Yaly, Vĩnh Sơn – Sông Hinh… và hiện nay là Nhà máy Thuỷ điện Sơn La. Tổng Công ty đã thực hiện các dự án Thuỷ điện: Sêsan 3, Tuyên Quang theo hình thức Tổng thầu EPC.

Trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, hiện nay Sông Đà có 3 Công ty với gần 1.000 người, trong đó có 2 đơn vị liên doanh với Ucraina và Canada hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tư vấn thiết kế các dự án điện. Các đơn vị tư vấn của Sông Đà đã tham gia tư vấn thiết kế hầu hết các dự án điện do Tổng công ty đầu tư và dự án điện khác ở trong nước. Ngoài ra còn tham gia các dịch vụ tư vấn như: Thiết kế bản vẽ thi công, tư vấn giám sát cho các dự án điện và các dự án trong các lĩnh vực khác.

Với vai trò là chủ đầu tư các dự án điện, trong 15 năm trở lại đây, Tổng công ty Sông Đà chủ trì phối hợp với các đối tác trong và ngoài nước đã và đang nghiên cứu thực hiện đầu tư 36 dự án Thuỷ điện vừa và nhỏ, với Tổng công suất 2.040 MW, tổng điện lượng 8.358 triệu KWH, tổng vốn đầu tư 21.980 tỷ đồng; 11 dự án đang chuẩn bị đầu tư với tổng công suất 745MW, tổng vốn đầu tư 16.631 tỷ đồng.

Đối với các dự án đầu tư tại Lào, Tổng công ty Sông Đà làm chủ đầu tư hoặc là cổ đông trực tiếp chỉ đạo đầu tư gồm 9 dự án với tổng công suất khoảng 1.400 MW, tổng điện lượng 5.579 triệu KWH và tổng mức đầu tư khoảng 1.883 triệu USD .

Ngoài ra Tổng công ty Sông Đà còn liên doanh liên kết với các đối tác trong nước để triển khai các dự án điện như: Dự án Thủy điện Nậm Mức, công suất 44 MW, Đakđring 125 MW, Luangprabang 1.400 MW và các dự án nhiệt điện: Nhơn Trạch 2, công suất 750 MW, Long Phú 2 công suất 1.200 MW.

Với năng lực và kinh nghiệm của mình, trong những năm qua Tổng công ty Sông Đà đã tiến hành đầu tư các dự án Thủy điện, trong đó sử dụng năng lượng của công ty mẹ và các công ty con đảm nhận hầu hết các nhiệm vụ thiết kế, thi công xây dựng và vận hành các dự án điện, đảm bảo ký thuật, an toàn và mang lại hiệu quả rất cao về kinh tế – xã hội.

Bên cạnh những thuận lợi về qui hoạch phát triển, về hệ thống pháp Luật, đồng thời có sự hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư ngành điện của Chính phủ, Bộ công thương vv… song những khó khăn trở ngại vẫn tồn tại chưa được khắc phục như: Hầu hết các dự án điện có công suất lớn và có các chi tiêu kinh tế tài chính tốt, thuận lợi để tiến hành đầu tư về cơ bản đã được các nhà đầu tư trong và ngoài nước lựa chọn đầu tư. Đến nay đã hoàn thành đầu tư hoặc đã được cấp phép đầu tư và triển khai, còn lại các dự án nhỏ ở các vùng khó khăn và có các chi tiêu kinh tế thấp hơn các nhà đầu tư sàng lọc và lựa chọn đầu tư trong thời gian tới.

Việt Nam chưa có thị trường điện, việc mua bán điện còn mang tính độc quyền, phương thảo hợp đồng mua bán điện của nhà đầu tư với EVN thường mất nhiều thời gian và gặp khó khăn về thống nhất giá bán điện (các dự án trong nước và các dự án tại Lào). Giá cả thị trường biến động bất lợi cho các nhà đầu tư, song lộ trình tăng giá điện chưa đáp ứng được với sự biến động của giá cả ảnh hưởng tới hiệu quả của các dự án điện.

Khi tiến hành đầu tư dự án, các nhà đầu tư trong nước thường chưa thống nhất được giá bán điện, chỉ khi dự án đã được triển khai hoặc sắp hoàn thành mới tiến hành đàm phán giá bán điện vơi EVN, do đó ngay sau khi lập dự án đầu tư các nhà đầu tư chưa thể biết được hiệu quả thực của dự án như thế nào nên rủi ro rất lớn. Trong khi các nhà đầu tư nước ngoài lại thống nhất giá bán điện trước khi nhà đầu tư như: Phú Mỹ 2 và Phú Mỹ 3 (đàm phán 6 năm trước khi đầu tư). Các dự án Thủy điện thường ở các địa bàn khó khăn nhất, lại phải sử dụng một lượng rất lớn về vật tư, thiết bị và con người trong khi đường sá đ lại khó khăn, do đó việc tổ chức thi công và tuyển mộ lao động cũng gây sức ép cho chủ đầu tư và các nhà thầu. Đặc biệt là các dự án đầu tư trên đất Lào, Campuchia còn gặp rất nhiều khó khăn về thủ tục đầu tư, xuất nhập cảnh, hàng rào thuế quan và chế độ chính sách khác nhau giữa hai nhà nước.

Hầu hết các dự án Thủy điện đều đòi hỏi vốn đầu tư lớn so với các ngành khác, việc khó khăn về vốn là nguyên nhân chính dẫn đến tiến độ thi công ở số dự án do chủ đầu tư không đủ năng lực dẫn tới nhiều dự án bị treo. Hiện nay, hầu hết các dự án Thủy điện vừa và nhỏ đều chậm tiến độ do thiếu vốn (nhà thầu thiếu vốn, hoặc chủ đầu tư thiếu vốn đối ứng nên việc giải ngân phụ thuộc vào Ngân hàng, nguồn vốn vay cũng bị ách tắc).

Hệ thống đấu nối điện không đồng bộ với quy hoạch phát triển các dự án điện dẫn tới hệ thống truyền tải không đáp ứng nhu cầu đấu nối từ các nhà máy điện. Nhiều dự án điện hoàn thành, nhưng đường điện đấu nối vẫn chưa được đầu tư, dẫn đến các dự án phát điện không biết bán đi đâu. Một điển hình như tại Lào Cai đến năm 2010, ngoài dự án Sử Pán 2 của Sông Đà. Có 27 dự án khác sẽ đi vào hoạt động, trong khi kế hoạch của Công ty điện lực 1 đến năm 2015 mới xây dựng đường điện 110KV, còn đường điện 220KV thuộc trách nhiệm đầu tư của EVN thì vẫn chưa quyết định có đầu tư hay không. Tình trạng này cũng sảy ra tương tự tại các tỉnh Kon Tum, Quảng Nam (dự án đã xây dựng, đường dây tải điện thì chưa thấy đâu).

Đối với các dự án đầu tư tại Lào, chưa có cơ chế về định mức đơn giá xây dựng cơ bản, chế độ thuế thu nhập cho doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, hàng hóa tạm nhập, tái xuất, chế độ tiền lương cho người lao động … thường vận dụng từ các quy định trong nước, do đó còn rất nhiều bất cập và gặp rất nhiều khó khăn.

Một só kiến nghị: Trên cơ sở những thuận lợi và khó khăn nêu trên, để đảm bảo các điều kiện phát triển các dự án điện, Tổng công ty Sông Đà kiến nghị với Chính phủ và các bộ ngành một số vấn đề sau:

1. Xây dựng cơ chế hỗ trợ cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào các nhà máy thủy điện mà bấy lâu nay các dự án thường không được hỗ trợ về điện, nước và cơ sở hạ tầng trước khi bắt đầu dự án (đối với các khu chế xuất, khu công nghiệp … được hỗ trợ khá đầy đủ ).

2. Sớm giải quyết vấn đề khung giá điện để các nhà đầu tư trong nước có thể chủ động trong việc xây dựng giá thành và dự trù chi phí ngay sau lập dự án đầu tư cần được vào lĩnh vực điện.

3. Cho phép các nhà đầu tư trong nước tiến hành đàm phán hợp đồng mua bán điện trước khi thực hiện đầu tư để tránh tình trạng việc đàm phán giá điện thì mất hàng năm, trong khi các dự án lại được ấn định thời gian phải vận hành nhà máy.

4. Có cơ chế về việc đầu tư và đấu nối điện, trong đó tăng cường trách nhiệm của EVN trong việc đầu tư đường dây truyền tải điện theo quy hoạch phù hợp với tiến độ phát điện và nhu cầu đấu nối của các nhà máy. Trường hợp EVN chưa đầu tư thì thỏa thuận với các chủ đầu tư xây dựng theo quy hoạch, sau đó EVN tiếp nhận quản lý vận hành và hoàn vốn cho nhà đầu tư…

(Bài tham luận do ông Vũ Tuấn Hùng phó Tổng giám đốc Tổng Công ty tại Hội thảo Quốc tế về qui hoạch và phát triển năng lượng Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 20 tháng 08 năm 2009)

Nguyễn Tất Lộc

 

Share Button