Sự hy sinh thầm lặng

Share Button
Có thể thời gian đi công trường của tôi chưa nhiều, cũng chẳng thấm vào đâu so với những người công nhân, kỹ sư đã một đời gắn bó với ngành Xây dựng. Dù vậy, sau mỗi chuyến đi, cuộc sống và những gì họ nếm trải, chịu đựng luôn để lại trong tôi ký ức khó quên. Đằng sau ánh hào quang của mỗi công trình mãi mãi vẫn còn đó hy sinh âm thầm của người thợ xây dựng. Đâu đó là hình ảnh người mẹ rơi nước mắt khi nghe tin con đỗ đại học, là cái bồi hồi của người cha khi biết đứa con vừa chào đời khỏe mạnh, hay chàng thanh niên buồn bã khi nghe tin người yêu đi lấy chồng và cả nỗi đau xé tâm can khi ai đó không kịp nói lời giã biệt người thân… Nơi tôi đến, cháy da trong cái nắng miền Trung là công trình có mệnh danh “ác liệt” nhất trong các công trình thuỷ điện và có lẽ sự “ác liệt” chỉ sau thuỷ điện Sêkamam trên đất bạn Lào – công trình thủy điện Bản Vẽ.

Đổ mẻ bê tông RCC đầu tiên vào ngày 28 tết Đinh Hợi.

Qua rồi những ngày nóng cháy sạm đen khuôn mặt, chiều đông sương giăng đầy góc núi, thảng hoặc tiếng chim kêu lẫn trong tiếng động cơ ình ình từ xa vọng lại, khoảng không gian đẫm hương rừng ấy là lúc những người công nhân trở về lán trại sau giờ làm việc và dường như không khí đón xuân dồn hết cho tiến độ công trình, ngoài kia từng tốp, từng tốp đang hối hả chuẩn bị cho mẻ bê tông đầm lăn RCC đầu tiên vào ngày 26 Tết. Ngồi trên tảng đá dõi nhìn xa xăm, Hải – “lính” Sông Đà còn nguyên bộ bảo hộ lao động màu vàng chanh tâm sự: “Tết đầu tiên xa nhà, mấy đêm rồi cứ mơ gói bánh chưng với mẹ, bù khú cùng lũ bạn thân, cứ thấy trong người nao nao thế nào ấy”. Với Hải đây mới là lần đầu tiên xa nhà, còn với hàng vạn người khác từ Tết với xa nhà không biết là lần thứ mấy rồi. Chạng vạng tối, mưa lất phất bay, dò dẫm cùng cây đèn pin qua 2 chiếc cầu nhỏ, khu lán trại nhạt nhòa ánh đèn đêm đỏ quạch, bước vào căn phòng còn vung vãi giấy tờ, trên nền nhà là bức thư nháp của một người thợ gửi vợ ở quê nhà: “Mẹ nó ơi, Tết này bố không về được, xa nhà mấy tết rồi. Bố gửi tạm 2 triệu mẹ nó sắm tết, đi tết ông bà nội ngoại, nhớ mua quần áo mới cho 3 đứa, mua đôi lợn với chục con gà nuôi tạm thôi, còn mấy việc nữa đợi bố lấy lương gửi tiếp về. Trong này, bố vẫn khoẻ, nhớ mấy mẹ con quá, bố cố gắng xin nghỉ phép vào dịp Trung thu, bố sẽ mua xe tặng cho thằng cún, mua đèn lồng cho con hĩm, còn thằng anh lớn bố mua cho cái cặp đẹp nhé…”. ở lại công trường ai cũng tự động viên mình “Tết chỉ có vài ngày thôi mà, ở đây đón Tết cùng anh em cũng vui”. Nói là vậy chứ trong sâu thẳm tâm hồn người Việt khó có thể diễn tả hết cảm giác thân thương, thiêng liêng ở khoảnh khắc giao thừa ăn một miếng bánh chưng, uống một ly rượu bên người thân là như gói gọn cả niềm vui ngày tết có ký ức tuổi thơ trong đó. Khi còn bé, háo hức đợi sáng mùng Một được mặc quần áo mới, được mừng tuổi, được đi chơi thoải mái cùng lũ bạn, lớn lên rồi tết là dịp chăm sóc người thân và khẳng định sự trưởng thành của mình để cha mẹ yên tâm, nếu có gia đình, vợ con thì còn cả trách nhiệm nặng nề phía trước. Bất kể một đơn vị nào cũng lo cho anh em công trường có một cái tết đầm ấm vui vẻ, nhưng có lẽ chỉ bù đắp được phần nào cái khoảng trống trong tâm tư mà thôi. Gác lại chuyện tết xa nhà, cuộc sống đời thường của mấy nghìn người lao động trên công trường giống như thước phim quay chậm. Nhớ lại ngày đầu tiên đi khảo sát hiện trạng, Thành – kỹ sư kể: “Hồi đó, gặp phải mưa rừng cả tháng bọn em ăn cơm nếp, thèm rau đến nỗi không dám nghĩ đến. Lúc đầu còn tắm gội bằng xà bông, sau thì Ômô cũng tắm ầm ầm. Nhiều hôm về thay quần áo thấy máu chảy khô thành dòng mới biết bị vắt cắn, nhưng ngán nhất vẫn là ruồi vàng, bị nó đốt không bị sốt rét là may còn lở loét là chuyện bình thường. Đêm về nghe tiếng chim rừng kêu, côn trùng rả rích, buồn quá đành tưởng tượng ra cảnh đang sóng đôi cùng người yêu…”. Nhớ lại ngày đầu vào thi công công trình phụ trợ, đội quân Sông Đà 25 phải thồ từng bao cát, mang từng viên gạch. Nhìn đi nhìn lại đâu cũng chỉ thấy rừng sâu, núi thẳm, muốn gọi một cuộc điện thoại hay gửi một lá thư cho người thân, ăn một bữa rau xanh phải men đường rừng khoảng 25 cây số mới ra được thị trấn Hoà Bình, vừa đi vừa về mất trọn một buổi. Giờ đây khi công trình đã có hình hài, đời sống đã bớt khó khăn hơn nhưng hình như từ “thiếu” vẫn luôn thường trực, dẫu biết rằng bao nhiêu cho đủ, thế nhưng cái thiếu chỉ dám so sánh với cái đủ ở mức độ tối thiểu mà thôi. ít ai tưởng tượng được ở một nơi làm thuỷ điện, càng mưa nhiều thì nước sinh hoạt càng thiếu. Hệ thống nước được lấy từ hồ trên núi qua hệ thống bể lọc, mùa mưa bị bùn sục nước không những đục mà đôi khi tắc luôn đường ống, thế là mấy nghìn con người đành phải chia nước cho nhau. Đại công trường vào ngày cao điểm có tới 6.000 công nhân, hết giờ làm việc họ lại trở về lán trại, cũng chẳng biết làm gì ngoài xem ti-vi, truyền tay nhau những tờ báo cũ. Lần nào lên tôi cũng tập hợp tất cả các loại báo gửi anh em công nhân, có cậu công nhân giữ rịt tờ báo Xây dựng có bài viết về thuỷ điện Bản Vẽ mà nguyên nhân là “trong ảnh có thằng bạn làm cùng em, còn cái chóp mũ này nhất định là em. Hôm đó chị đứng trên chụp ảnh, em cũng thấy mà. Khi nào về nhà em sẽ mang ra khoe, được lên báo khoái thật đấy”. Ngoài trời mưa vẫn rơi, từng đoàn xe vẫn ì ạch trong bùn đất, những vạt áo thấm mồ hôi và thấm cả nước mưa như ướt tâm can người cảm nhận, vọng lại lời tâm sự của rất nhiều công nhân: “ở đây thiếu thốn đủ đường nhưng còn chịu đựng được, sợ nhất là bọn bán ma tuý đến gạ gẫm, mà ở cái vùng mua ma tuý còn dễ hơn mua thịt này phải tự răn mình nhiều lắm mới không dính vào, có lúc buồn quá đã dơ tay ra rồi lại thụt tay vào vì nghĩ đến gia đình, người thân và cả tương lai phía trước… Không buồn làm sao được khi thanh niên đang tuổi yêu đương mà cả tuần chả nhìn thấy bóng dáng một cô gái, với bọn em bây giờ con gái chỉ cần không dị dạng là xinh rồi”. Bao tâm tư, tình cảm, buồn vui chỉ có thể gửi gắm qua lời tâm sự ngắn ngủi hay cánh thư chất chồng thương nhớ, rồi hàng ngày hàng giờ những người công nhân vẫn miệt mài trên vị trí của mình, chính xác từng mũi khoan, từng mối hàn, từng mẻ bê tông. Ngày thường dốc toàn lực cho công việc, ngày cao điểm công nhân làm việc liên tục trong 3 ca và công trường là những đêm không ngủ. Nhớ lần để kịp tiến độ kênh dẫn dòng, chỉ thấy ánh lửa toé lên từ mũi hàn xanh lét dưới cái nắng 410C, không một làn gió, quần áo anh em công nhân ướt sũng như vừa nhúng trong chậu nước, mồ hôi chảy thành dòng và mặt ai cũng có một màu đỏ au như trái bồ quân. Vừa làm việc họ vừa trêu nhau “có ông nhạc sĩ sáng tác bài “Mưa trên phố Huế”, ông ấy mà lên đây lại sáng tác được bài mưa trên công trường ấy chứ!”. Người xây dựng trên công trường thuỷ điện là vậy đó, lấm lem bụi đất, áo chẳng được khô, khi vào công việc thì chỉ biết có việc mà thôi. Khi công trình gắn xong tấm biển họ lại ra đi đến những vùng hoang vu khác và trong hàng ngàn công trình lớn nhỏ, người xây dựng vẫn âm thầm như thế.

Tôi chưa có dịp trở lại thuỷ điện Bản Vẽ từ cái ngày xảy ra tai nạn đau đớn – sập mỏ đá D3 làm 17 công nhân Sông Đà và 1 cán bộ của BQL DA Thuỷ điện 2 bị vùi lấp. Sau những ngày vắt kiệt tâm can, sức lực tìm kiếm đồng đội, nỗi đau xé ruột chưa thể nguôi ngoai nhưng những người thợ xây dựng vẫn phải gạt nước mắt để tiếp tục công việc, công trình lại hối hả thi công, tất cả vì dòng điện ngày mai cho Tổ quốc. Sự hy sinh của người thợ thật thầm lặng, bình dị và rất đỗi tự hào.

Thanh Uyên (BXD)
Share Button