Trăng Tây Bắc

Share Button
Tối mùng 6 Tết Mậu Tý, từ Hà Nội chúng tôi ngược Lào Cai. Kể từ lần đầu tiên đặt chân đến Tây Bắc (tháng 11.1973), hễ có dịp là tôi lại đến với mảnh đất này. Lần này đi, cũng không phải để tò mò xem băng tuyết ở Sa Pa. Mà là vì lời hứa với một người: Kỹ sư Nguyễn Thanh Kim, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần thuỷ điện Sông Đà- Hoàng Liên. Và lời hứa với một công trường: Công trường xây dựng Nhà máy thuỷ điện Sử Pán 2 (công suất 34,5 mêgaoát) nằm trên Ngòi Bo thuộc địa bàn 2 xã Sử Pán và Bản Hồ thuộc huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai.

Trời rét đậm. “Quá mù ra mưa”. Trên đường lên Sa Pa, hơi nước mù mịt, sương giăng phủ kín núi rừng. Xe đi phải bật đèn vàng. Những giọt băng trong veo tí tách rơi xuống mặt kính. Lúc này ngoài trời là âm 2 độ C. Những bụi tre bên đường trĩu cong, rạp xuống mặt đường, băng đọng trên lá, trên cành lấp lánh. Những cây đào Sa Pa cành lá bọc đầy băng, khẳng khiu, vươn lên trời như những ngón tay lạnh giơ lên cầu cứu. Một người đàn ông nặng nhọc đẩy chiếc xe máy hỏng đi trên đường, băng bám vào mấy sợi râu lún phún trên mép, băng bám vào vạt áo mưa, trắng xoá. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, lâu lâu lại thống kê số trâu bò bị chết rét, lên tới vài nghìn. Có tin một cặp vợ chồng đi xe máy từ Lai Châu về Lào Cai, do bất cẩn mà để trời lạnh cướp đi sinh mạng của đứa con hơn 2 tuổi mà người mẹ vẫn ôm trên tay. Những tin tức ấy làm chúng tôi chẳng còn lòng dạ nào có cái “vô tư” của những du khách từ miền xuôi lên Sa Pa đợt này, chỉ để thoả một chút tò mò là được ngắm tuyết rơi, băng đọng. – Cứ chênh nhau vài mét độ cao, thời tiết đã khác, các anh ạ. Có khi ở công ty trời mưa, nhưng ngoài công trường thì nắng. Cùng chúng tôi đi công trường, Nguyễn Thanh Kim cho biết như vậy. Đó là kinh nghiệm rút ra của hơn 300 ngày đêm sống ở vùng đất này của Kim. Không lên xe ngay ở sân công ty, Kim dẫn chúng tôi men theo hành lang của dãy nhà chữ U, lần theo mấy chục bậc đá xuống đường. Kim gọi hành lang đầu hồi cánh trái của dãy nhà là “Vọng sơn đài” vì từ đây, có thể nhìn thấy rõ toàn cảnh của công trường và dãy núi Hoàng Liên trước mặt. Từ chỗ sương giăng mù mịt, chúng tôi đi dọc con đường bờ trái Ngòi Bo, ngược lên vị trí cửa hầm dẫn nước ra, vị trí tháp điều áp và đập thuỷ điện. Trời mỗi lúc một sáng hơn. Nhanh quá, từ chỗ núi đá, đồi trọc hoang vắng, qua một năm nay đã rõ hình hài của một công trình thuỷ điện. Chỗ sườn đồi bị vạt thành 5-6 bậc kia, có rãnh thoát nước, có lối lên xuống được bó gạch, sẽ là nơi cửa hầm dẫn nước ra. Việc đào hầm sẽ tiến hành nay mai. Từ đó, đường ống thép dẫn nước sẽ băng xuống bản Hồ, nơi đặt nhà máy. Nhìn rõ dòng nước Ngòi Bo ngoằn ngoèo phía xa, nhìn rõ từng ngọn cây, nóc nhà. Người dân bản Hồ lâu nay nhìn lên dãy núi trước mặt, cứ dụi mắt ngỡ nằm mơ trước cả 4-5 cây số đường phân tầng, cắt lớp chắn ngang, với những xe, những máy chạy ngang dọc. Trông xa thì nhỏ xíu, đến gần thấy cỗ máy nào cũng to, cũng khoẻ. Cái gầu xúc to là thế, ngoạm một cái là lõm một vệt núi, vậy mà cũng phải đổ 7-8 lần mới đầy một chiếc xe tải… Con đường khá rộng, lát một lớp đá dày nên tuy bùn đất lầy lội, nhưng xe đi lại dễ dàng. – “Mai này sẽ là đường dân sinh, còn bây giờ là đường phục vụ thi công”. Nguyễn Thanh Kim hào hứng nói. “Tại đoạn gần đập thuỷ điện, năm nay công trường sẽ bắc một cây cầu sang bờ phải của Ngòi Bo, phục vụ cho việc thi công cống dẫn dòng, đập chính, đập dâng của nhà máy”. Người bạn phóng viên cùng đi với chúng tôi, lần đầu tiên tới một công trường thuỷ điện, trầm ngâm thốt lên: “Hoá ra để có được 1 kilôoát điện, công việc thật gian nan”. Nói rồi ông im lặng. Không biết lúc này ông có nghĩ về những ánh đèn màu quảng cáo nhấp nháy đêm đêm tạo ra cái hào quang hư ảo ở các thành phố lớn hay không. Với tôi thì khi nhìn những ánh đèn màu vô vị ấy bao giờ cũng lại nhớ về những người thợ xây dựng thuỷ điện mà mình từng biết, những người đã quen ở công trường hơn ở nhà mình. – Đang mang tên “Công ty cổ phần thuỷ điện Sử Pán 2”, tại sao lại đổi tên? Tôi hỏi Nguyễn Thanh Kim. – Đấy là thể hiện quyết tâm của Công ty gắn bó với vùng đất dưới chân núi Hoàng Liên này, anh ạ Kim cười rất tươi, trả lời. Nụ cười làm gương mặt vốn đăm chiêu trẻ hẳn lên. Tôi tin điều Kim nói. Nhìn trên bản đồ của tỉnh Lào Cai, ngay cả bản đồ loại nhỏ, cũng có thể thấy Ngòi Bo là nhánh cấp 1 phía bờ phải sông Hồng, bắt đầu từ dãy núi cao Hoàng Liên. Vùng thượng lưu Ngòi Bo gồm 3 nhánh chính là Nậm Cang, Mương Hoa Hô và Séo Chung Hô. Cả 3 nhánh này đều hợp lưu tại vùng Bản Hồ- Mường Bồ để tạo thành dòng chính Ngòi Bo, chảy theo hướng Đông Nam- Tây Bắc và đổ vào sông Hồng tại Bến Đền. Theo khảo sát, trên Ngòi Bo có thể làm tới 7 công trình thuỷ điện gồm Séo Chung Hô, Sử Pán 1, Sử Pán 2, Nậm Củn, Tà Thàng, Nậm Sài, Nậm Toóng. Đã có vài ba đơn vị được tỉnh Lào Cai cấp phép xây dựng nhà máy thuỷ điện ở khu vực này. Nhưng đến nay, thực sự làm, hình hài công trình hiển hiện trước mắt bà con, thì mới có công trình Sử Pán 2 này. 12 thanh niên con em bà con trong bản đã được Công ty tuyển, gửi về học ở trường công nhân kỹ thuật Việt- Xô tại Hoà Bình. Sau 18 tháng học tập, các em ra trường là vừa kịp lúc tổ máy số 1 của nhà máy Sử Pán 2 phát điện. Buổi tiễn con em mình về xuôi học tập, trở thành ngày hội của bà con người Mông, người Dao quanh vùng, vui như lễ khởi công ngày 28.1 năm ngoái. Gặp nhau lần này, Nguyễn Thanh Kim vui mừng thông báo, Công ty đã khởi công xây dựng cầu Thanh Phú qua Ngòi Bo, hạng mục đầu tiên của dự án thuỷ điện Nậm Củn. Hai dự án thuỷ điện nhỏ ở xã Hỏm Dưới và Lán Bò, huyện Văn Bàn cũng nằm dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn, đang được xúc tiến thực hiện. Bữa cơm đầu năm trên công trường thật vui. Mọi người cùng nâng cốc chúc một năm lao động cật lực để hoàn thành đúng tiến độ đề ra. Chưa kịp cạn hết chén rượu, Kim đã vội nhắc người bếp trưởng: “Anh kiếm một thùng phuy cũ, đặt mấy cái ghi sắt vào, để giữa phòng ăn làm lò sưởi nhé. Kiếm củi đốt lên. Trời lạnh quá, cơm canh chóng nguội, anh em khó ăn lắm”. Quây quần bên bàn ăn toàn là những gương mặt trẻ, có lẽ cũng trẻ như thời kỹ sư trẻ Nguyễn Thanh Kim làm khu trưởng một khu vực, đổ bê tông đập tràn thuỷ điện Hoà Bình. Thấp bé, nhẹ cân, Kim đã phải độn cả chiếc áo cũ vào ủng mới xỏ vừa chân. Không có ai làm Hoà Bình, YaLy, Vĩnh Sơn, Cần Đơn cả. Chúng tôi cùng nhắc tới những người quen cũ, “người Hoà Bình” như anh em vẫn nói. Có những người đã khuất như vua cẩu chuyển, Anh hùng lao động Nguyễn Huyền Chiệc, kỹ sư lắp máy Phạm Văn Bổng… – Làm sao có tiếp một “thế hệ Hoà Bình” thứ hai, đặc biệt trong thời kinh tế thị trường hôm nay. Tôi hỏi Kim – Chúng em đang cố gắng, anh ạ. – Cố như thế nào? – Thì anh thấy đấy. Quân sông Đà đi đến đâu là nghĩ đến việc tham gia phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương. Bây giờ hiệu quả kinh tế đặt lên hàng đầu. Nhưng hiệu quả kinh tế phải nghĩ lớn hơn. Đó là hiệu quả kinh tế của toàn xã hội. Các công trình thuỷ điện đều xây dựng ở vùng sâu, vùng xa, đời sống bà con còn khó khăn lắm. Anh em phải chú ý giúp đỡ, để bà con có đời sống khá hơn. Nên phải giúp bà con điện- đường- trường- trạm… – Đấy là về cái tình, nhưng về cái lý thì làm sao đạt hiệu quả kinh tế? – Thì mình phải cầm tay chỉ việc, giúp anh em về phương pháp tổ chức một công trường, tổ chức một dây chuyền sản xuất, giúp nhưng không làm thay, để anh em học tập từ thực tế. – Kim thấy lớp trẻ hôm nay thế nào? Trước khi trả lời câu hỏi của tôi, Kim lần lượt giới thiệu các trưởng phòng kỹ thuật, kinh tế- kế hoạch, tư vấn, cơ khí công nghệ… của công ty. Toàn những người thâm niên chưa tới 10 năm. Đây là những đồng đội đã cùng Kim gắn bó với Sử Pán 2 hơn 300 ngày qua. Rồi, với giọng nói nửa như tâm sự, nửa như trả lời, Kim nhận xét: Lớp trẻ hôm nay hơn lớp trẻ Hoà Bình ngày trước rất nhiều. Đào tạo cơ bản hơn, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng thuỷ điện, phương tiện và điều kiện làm việc cũng hiện đại hơn. Điều quan trọng nhất là dám dấn thân. Kim quả quyết: “Điều quan trọng nhất là bạn trẻ nào biết dám dấn thân xa chốn thị thành, xa những chỗ hứa hẹn lương cao, bổng hậu, đến với những công trường như thế này, con người sẽ trưởng thành”. Nguyễn Thanh Kim thuộc thế hệ Hoà Bình của Tổng Công ty Sông Đà. Với cặp kính cận, chiếc mũ len chùm kín đầu và cái áo dạ dài, Kim lẫn trên sân ga Trần Quý Cáp (Hà Nội) với biết bao người khác. Nhưng có thấy những hạng mục công trình đã hoàn thành ở Sử Pán 2 và việc triển khai công việc trong năm nay, mới thấy một Nguyễn Thanh Kim sôi nổi, hoạt bát và biết nhìn xa trông rộng. Kim đã học được khá nhiều ở những người đi trước và học được những điều còn mới hơn trong thời buổi Việt Nam gia nhập WTO này. Trò chuyện với Kim ở Sử Pán, tôi nhớ tới thế hệ “Thác Bà” của Tổng Công ty Sông Đà. Những người còn làm việc cũng không còn nhiều nữa. Lại nhớ tới một người đàn ông ở tuổi Đinh Hợi, tết này là tròn 62: Kỹ sư Phạm Bá Tôn. To cao, vạm vỡ, nước da sậm nâu, lông mày rậm, giọng nói rổn rảng của người Thái Bình. Phạm Bá Tôn nổi tiếng trên Hoà Bình với các hoạt động của Công ty vận tải 500 xe. Đầu xuân Đinh Hợi năm ngoái, tôi cùng anh lên Sơn La. Khí hậu Sơn La khác với Lào Cai nhiều lắm. Chưa tới rằm tháng Giêng mà trời đã nóng, đã có mưa rào. Chúng tôi lần đi trên những đoạn đường mới mở của công trình thuỷ điện Nậm Chiến 1 ở xã Ngọc Chiến, huyện Mường La, rồi vòng mấy chục kilômét về xã Chiềng Muôn cũng thuộc Mường La, nơi xây dựng nhà máy thuỷ điện Nậm Chiến 2. Là uỷ viên Hội đồng Quản trị Tổng công ty, Phạm Bá Tôn đã lần lượt được giao phụ trách xây dựng hai nhà máy này. Đêm ấy, trăng thật đẹp. Dòng suối Chiến sau khi chảy qua hẻm mấy đỉnh núi thuộc loại cao nhất ở Sơn La, đến khu vực xã Chiềng Muôn trải rộng ra. Ngày đêm dòng nước chồm qua những ghềnh đá, tiếng reo thật êm tai. Tôi hỏi Phạm Bá Viễn, con trai Phạm Bá Tôn: “Cháu có biết sao Mai- sao Hôm không?”. Viễn ngơ ngác lắc đầu. Phạm Bá Tôn cười vang, nói: “Nó sinh ra ở Hoà Bình, cũng đã từng là lính ở Trường Sa, nhưng không phải vất vả sớm hôm để biết đến “sao Mai” và “sao Hôm”. Với Phạm Bá Tôn, chuyển đi đầu xuân Đinh Hợi đến công trường Sơn La như một chuyến đi từ biệt. Anh rất vui khi thấy cánh kỹ sư trẻ mà mình dìu dắt, đã làm khá tốt việc chuẩn bị xây dựng nhà máy thuỷ điện Nậm Chiến 2. Tròn 60 tuổi, sức lực còn nhiều, nhưng tổ chức bảo nghỉ là nghỉ, bảo làm là làm. Phạm Bá Tôn tâm sự với tôi như vậy. Đêm đầu xuân Đinh Hợi ấy, chúng tôi cũng ngủ ở công trường. Về khuya, một cơn mưa rào chợt ập đến. Nằm nghe tiếng sấm ầm ì và những hạt mưa quất trên mái tôn như gõ trống, tôi cảm thấy mình có lỗi nếu như không viết được một dòng nào về anh. Nhất là cái đận anh mắc vòng lao lý, 18 tháng trời. Rồi gượng đứng lên trong sự đùm bọc của đồng chí, đồng đội, gia đình và bè bạn, trở lại với Phạm Bá Tôn rắn rỏi thủa nào. Một năm trôi qua thật nhanh. Như đoạn kết của một cuốn phim, vào những ngày cuối cùng của năm Đinh Hợi, Phạm Bá Tôn lại rủ tôi lên Sơn La. “Lần này ta đi Sông Mã”. Hoá ra là trong cái năm mà tôi cứ băn khoăn mãi khi nghĩ về anh, anh đã kịp triển khai thêm 2 công trình thuỷ điện nhỏ nữa ở huyện Sông Mã: Thuỷ điện Nậm Sọi và Nậm Công. Các anh đang phấn đấu để tổ máy số 1 của cả 3 nhà máy Nậm Chiến 2, Nậm Sọi và Nậm Công đều phát cùng thời điểm cuối năm 2009. Phạm Bá Tôn- Nguyễn Thanh Kim chênh nhau khoảng chục tuổi. Nhưng không hẹn mà nên, cả hai cùng nói với tôi về một việc: Đó là đào tạo đội ngũ người Sông Đà kế tục sự nghiệp Hoà Bình. “Thuỷ điện Hoà Bình”- đó là khẩu hiệu “cao độ 81 hay là chết”. “Thuỷ điện Hoà Bình”- đó là “Tất cả vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc. “Thuỷ điện Hoà Bình”- đó là “Công trường thanh niên cộng sản”. Rời Sử Pán, chúng tôi đi xuôi theo dòng Ngòi Bo về Bảo Thắng. Ở đoạn khúc quanh của Ngòi Bo thuộc xã Thanh Phú, để đi vào 3 xã Thanh Kim, Suối Thầu, Nậm Cang huyện Sa Pa đã phải làm tới 2 cây cầu treo. Nhưng xe tải không đi được. Hàng hoá phải bốc dỡ từ trên xe xuống, gùi qua 2 cây cầu này rồi mới có xe phía bên kia đón chở đi. Mỗi năm Sa Pa mất tới 3 tỷ đồng cho việc tăng bo này. Công ty Sông Đà- Hoàng Liên chọn đúng chỗ ngã ba này để làm cầu. Vào ngày 6.1 vừa rồi, lễ khởi công đã được tiến hành trong sự vui mừng của bà con 3 xã vùng sâu của huyện Sa Pa. Chủ tịch UBND huyện Sa Pa Hầu A Lềnh xúc động bắt tay Kim thật chặt: “Đây là ước mơ của mấy đời Chủ tịch Sa Pa đấy, Kim à”. Bí thư tỉnh uỷ Lào Cai Bùi Xuân Vinh còn vui hơn, khi nghe lãnh đạo Sông Đà- Hoàng Liên báo cáo: cùng với việc làm cầu, công ty sẽ mở một con đường bên bờ phải Ngòi Bo xuống tận xã Gia Phú của huyện Bảo Thắng, khoảng hơn 7 kilômét. Xong đường, ô tô có thể từ Bảo Thắng đi thẳng đến Sa Pa không phải qua thành phố Lào Cai nữa. Rút ngắn được mấy chục kilômét. Nhìn lên bản đồ miền Bắc nước ta, thấy các công trình thuỷ điện mà thợ Sông Đà làm đã gần khép kín thành một vòng tròn: Hoà Bình-Sơn La- Điện Biên- Lai Châu- Lào Cai- Hà Giang- Tuyên Quang. Tôi cứ muốn so sánh vòng tròn ấy với vầng trăng tròn vành vạnh treo trên núi rừng Tây Bắc ngày rằm hàng tháng. Đầu xuân Mậu Tý, ở Lào Cai băng đọng trắng xoá trên dãy Hoàng Liên. Không thấy một ánh sao, nói chi đến trăng. Vậy mà tôi vẫn cứ có cảm giác có một vầng trăng thật tròn, thật đẹp đang tồn tại ở vùng đất này. Trăng mới dịu làm sao! Ôi người thợ Sông Đà.

Nguoidaibieu.com.vn
Share Button